Sau hơn 10 năm đi vào cuộc sống, Luật đất đai 2003 đã biểu đạt nhiều thiếu sót, hạn chế liên quan tới bồi thường và thu hồi đất dẫn đến các Công trình liên quan tới đất đai kéo dài, nhiều vụ việc khiếu nại, khiếu kiện xảy ra trên phạm vi cả nước.
Để khắc phục tình trạng đó Quốc hội
khóa XIII, kỳ họp thứ 6 Luật đất đai 2013 đã được phê duyệt ngày
29/11/2013 quy định một số điểm mới về bồi thường và thu hồi đất nhằm làm
cho hành lang pháp lý thông thoáng hơn trong sinh hoạt bồi
thường và thu hồi đất luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2014, cụ thể:
1. quyền lợi của người sử dụng đất khi bị thu hồi
Theo Điều 26, khoản 3 Luật Đất Đai
2013 quy định nhà nước đã bảo đảm với người sử dụng
đất khi Nhà nước thu hồi đất bởi vì mục đích quốc phòng, an
ninh; tăng trưởng kinh tế - xã hội bởi lợi ích quốc gia,
công cùng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền về thu hồi đất:
Theo Điều 66 Luật đất đai 2013, thẩm
quyền thu hồi đất:
một. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
giấc thống nhất thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối sở
hữu tổ chức, hạ tầng tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức nước ngoài với nhiệm vụ ngoại giao, doanh
nghiệp với vốn ưu tiên đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp
quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ
đất công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường
hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối sở
hữu hộ gia đình, cá nhân, cùng đồng dân cư;
b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được với nhà ở tại Việt Nam.
Điểm mới so có Luật Đất
Đai 2013 là trường hợp trong khu vực thu hồi đất với cả đối tượng quy
định tại khoản 1 và khoản hai Điều này thì Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh giấc thống nhất thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban
nhân dân cấp huyện thỏa thuận thu hồi đất. Như vậy, nếu với thỏa
thuận thu hồi đất đối với cả tổ chức và tư nhân thì quyết
định thu hồi thuộc UBND cấp tỉnh giấc.
3. Trình tự thông báo khi thu hồi đất:
Theo điều 67 khoản 1 Luật
Đất Đai 2013. Trước khi có thống nhất thu hồi đất, từ
từ nhất là 90 ngày đối mang đất nông nghiệp và 180 ngày
đối có đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước với thẩm quyền
phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết.
Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều
tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Luật đất đai 2003 chỉ quy định thông
báo cho người bị thu hồi biết lý bởi thu hồi, thời gian di
chuyển, cách thức tổng thể. Luật mới đã cụ thể hóa hơn
và với sự tham gia của người dân vào kế hoạch khảo sát, đo đạc, kiểm
đếm, tránh những trường hợp không đồng ý về phương án đền
bù khi thu hồi.
4. các trường hợp bị thu hồi đất:
Luật Đất Đai 2003 quy định 12 trường
hợp thu hồi đất. Luật Đất Đai 2013 phân ra 4 trường hợp thu hồi đất rất rõ
ràng trong khoảng điều 61 tới điều 65 như: thu hồi
đất bởi vì mục đích quốc phòng an ninh; thu hồi đất để phát
triển kinh tế xã hội do lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi
đất vì vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm
dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, sở
hữu nguy cơ đe dọa tính mạng con người;
Trong các quy định thu hồi
đất sở hữu một số điểm mới như thu hồi bởi sử dụng đất
không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng
đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục
đích mà tiếp tục vi phạm; đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định
của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho; đất không được chuyển quyền
sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng
đất vì thiếu trách nhiệm để bị lấn chiếm; người sử dụng đất
không thực hiện phận sự đối mang nhà nước và đã bị xử
phạt vi phạm hành chính mà không tuân thủ.
Việc thu hồi đất vì vi
phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, thống nhất của cơ
quan nhà nước sở hữu thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về
đất đai.
5. Trình tự thu hồi đất
Luật đất đai 2013 trật
tự thu hồi đất được quy định rõ ràng và chú ý tới sự thông
tin đa dạng đến từng người dân và thông tin trên
phương tiện thể thông báo đại chúng. Trường hợp người sử dụng
đất trong khu vực mang đất thu hồi không kết hợp sở
hữu tổ chức làm cho vai trò bồi thường, giải phóng mặt bằng
trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi với đất thu hồi và tổ
chức khiến cho vai trò bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức
vận động, thuyết phục để người sử dụng đất tuân thủ. Việc vận động, thuyết
phục người dân trong trình tự thu hồi đất được quy định trong luật
là một điểm mới, đề cao cách thức thuyết phục người dân
chưa phối hợp với tổ chức khiến chức năng bồi
thường. cách thức thuyết phục được quy định trước lúc áp
dụng cưỡng chế sẽ giảm thiểu được giấy má và chi phí cho việc cưỡng
chế khi thu hồi đất và cũng là sự phổ biến pháp luật đất
đai tới người dân lúc nhà nước thu hồi đất.
6. Cưỡng chế thu hồi đất
Việc cưỡng chế thu hồi đất được quy
định rõ tại điều 71 là một điểm mới bộc lộ sự công khai,
dân chủ đảm bảo trật tự, an toàn đúng quy định và đặc trưng thời
điểm cưỡng chế được tuân thủ trong giờ hành chính. Điểm mới là cưỡng
chế chỉ được thực hiện lúc đáp ứng điều kiện quy định tại
khoản hai điều 71:
a) Người có đất thu hồi
không chấp hành thống nhất thu hồi đất sau khi Ủy ban
nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất
thu hồi và tổ chức khiến cho vai trò bồi thường, giải phóng mặt
bằng đã vận động, thuyết phục;
b) thống nhất cưỡng chế chấp
hành thống nhất thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy
ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư
nơi có đất thu hồi;
c) thỏa thuận cưỡng
chế thực hiện thống nhất thu hồi đất đã có hiệu lực
thi hành;
d) Người bị cưỡng chế đã nhận
được thỏa thuận cưỡng chế tuân thủ thỏa thuận thu hồi
đất sở hữu hiệu lực thi hành.
Trường hợp người bị cưỡng
chế trong khoảng chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc
vắng mặt lúc giao thỏa thuận cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân
cấp xã lập biên bản.
Đối với trình tự
, giấy má thực hiện cưỡng chế thu hồi đất sở hữu điểm
mới là:
Ban thực hiện cưỡng chế
vận động, thuyết phục, đối thoại sở hữu người bị cưỡng chế; giả
dụ người bị cưỡng chế thực hiện thì Ban thực
hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự tuân thủ. Việc bàn giao đất
được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày từ khi ngày lập
biên bản.
7. Bồi thường khi thu hồi đất:
Việc bồi thường được chấp
hành bằng việc giao đất với cùng mục đích sử dụng sở
hữu loại đất thu hồi, nếu như không mang đất để bồi
thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu
hồi vì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thỏa thuận tại thời
điểm quyết định thu hồi đất.
Việc bồi thường lúc Nhà
nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp
thời và đúng quy định của pháp luật.
Nguyên tắc tương
trợ lúc Nhà nước thu hồi đất: theo điều 83- Luật Đất Đai 2013:
a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
b) Việc hỗ trợ phải bảo
đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.
Điều 77- Luật Đất Đai 2013 quy định
điểm mới: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn
mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích
đất do được nhận thừa kế; b) Đối sở hữu diện tích đất nông
nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi
thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Như vậy, điểm mới của Luật Đất Đai là chỉ bồi thường trong hạn mức giao đất
theo điều 129.
Theo điều 79 Luật Đất Đai thì . Hộ
gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đang với nhà ở gắn liền sở hữu quyền sử dụng đất tại
Việt Nam mà với đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của
Luật này lúc Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở
nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi sở hữu đất thu hồi
thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu
cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong
địa bàn xã, phường, thị trấn nơi với đất thu hồi thì được bồi thường
bằng tiền. Đối có địa phương sở hữu điều kiện về quỹ đất ở
thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
2. Hộ gia đình, cá
nhân lúc Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở
phải chuyển di chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất
ở, nếu như không mang chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán,
cho thuê, cho thuê sắm nhà ở hoặc giao đất ở với thu tiền
sử dụng đất.
Điểm mới về tách thửa cũng đang là
thắc mắc cho nhiều hộ gia đình ở cộng một thửa đất đã được quy
định theo khoản 2 điều 6 Nghị định 47/2014: Trường hợp trong hộ gia
đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ với nhiều
thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cộng chung sống trên 1 thửa đất
ở thu hồi nếu như đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng
theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc mang nhiều hộ gia đình với chung
quyền sử dụng 1 (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân
cấp thức giấc căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và
tình thực tại tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở
tái định cư cho từng hộ gia đình.
Khoản 5 Nghị định 47/2014: Trường
hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận
là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân với đất thu hồi được chuyển
mục đích sử dụng đất đối mang phần diện tích đất đó sang đất ở trong
hạn mức giao đất ở tại địa phương, ví như hộ gia đình, tư
nhân với nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở thích
hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá
nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải chấp hành nghĩa
vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền
thuê đất, thuê mặt nước. Như vậy, quyền của hộ gia đình về chuyển mục đích sử
dụng đất sau lúc thu hồi sang đất ở đã được mở rộng và tạo điều kiện
cho hộ gia đình tư nhân khi sở hữu nhu cầu chuyển mục đích
sử dụng đất.
8. những trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi
thường về đất:
Theo điều 82- Luật Đất Đai 2013, Nhà
nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau
đây:
1. những trường hợp quy
định tại khoản một Điều 76 của Luật này;
hai. Đất được Nhà nước giao để quản
lý;
3. Đất thu hồi
trong các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích và đã bị xử phạt
hành chính, đất được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đất
không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của luật này
và các trường hợp tự nguyện trả lại đất theo khoản 1 Điều
65 của Luật này;
4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền mang nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.
các quy định về bồi thường, thu
hồi đất đã nâng cao quyền của người dân, hộ gia đình
và với cơ chế thu hồi rõ ràng đã khắc phục những hạn chế
của Luật Đất Đai 2003. có các quy định mới, người dân được tiếp
cận mang các quy định mới đảm bảo quyền của người dân và những đảm
bảo của nhà nước khi thu hồi đất. Luật Đất Đai 2013 được thực
hiện sẽ giảm số lượng khiếu nại, khiếu
kiện vì đã mang quy định rõ ràng và nâng cao hơn
nữa quyền của tư nhân, hộ gia đình đối mang quyền sử dụng đất và
được nhà nước bồi thường, hỗ trợ lúc thu hồi đất.


0 nhận xét:
Đăng nhận xét