Những chuyên viên với ý kiến về các bước tiếp tục đổi mới của pháp luật đất đai.
Xác định trong khoảng năm 2003, Quốc hội sẽ phê
duyệt luật Đất đai mới vào năm 2013 để tiếp tục giải
quyết các tồn tại trong chính sách, pháp luật về đất đai.
Hội nghị lần thứ 5 của Ban thực hiện Trung ương Đảng khoá XI cách đây không lâu.
Đồng thời xem xét nhiều vấn đề cần thiết về xây dựng
thể chế của đất nước như thay đổi Hiến pháp, chính sách luật đất đai,
phòng chống tham nhũng, v.v. Đó đều là các vấn đề sở
hữu liên quan mật thiết có quản lý và sử dụng đất đai. Hội nghị
đã đưa ra những kết luận về chính sách, pháp luật đất đai, và đó là cơ
sở vật chất chính trị để xây dựng luật Đất đai (sửa đổi).
Từ sau
năm 2000, chủ trương đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, cao cấp hoá
đất nước đã đặt ra chỉ định to lớn về tiếp tục đổi mới chính
sách, pháp luật đất đai. Ngày 12.3.2003, hội nghị lần thứ 7 Ban tuân
thủ Trung ương Đảng khoá IX đã phê duyệt nghị quyết số 26-NQ/TW
về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, cao cấp hoá đất nước. Nghị quyết là đường
phố lối chính trị căn bản của Đảng tạo nền tảng để tạo
ra các quy định cụ thể của luật Đất đai 2003. Quốc hội đã thông
qua luật số 13/2003/QH11 – luật Đất đai – vào ngày 26.11.2003.
Những bất cập đang tồn tại.
Bước
đổi mới này đã hình thành nhiều ưu thế trong giải
quyết vấn đề đất đai phục vụ vững mạnh kinh tế, an sinh xã
hội, quốc phòng, an ninh. Bên cạnh những mặt tích cực cũng
còn những điểm phải để lại, chưa thể quyết định (ví dụ như
vấn đề thời hạn và hạn điền sử dụng đất nông nghiệp) hoặc những điểm
đã được thỏa thuận nhưng chưa đáp ứng được nhu
cầu thực tế (ví dụ như cơ chế nhà nước thu hồi đất và đáp
ứng bồi thường, tương trợ, tái định cư).
Nhìn
lại tổng thể hệ thống pháp luật đất đai hiện hành và quá trình thực thi pháp
luật, có thể tiện dụng nhận ra những bức xúc chủ
yếu đang tồn tại bao gồm:
1.
Pháp luật chưa bảo đảm sự ổn định trong sử dụng đất nông nghiệp như
thời hạn quá ngắn, hạn điền quá hẹp và quy hoạch sử dụng đất chưa chỉ ra
được các vùng nông nghiệp không bị chuyển mục đích sử dụng đất (trừ
đất chuyên canh lúa cần bảo vệ); trong khoảng đó làm
cho nông dân hao hụt động lực trong ưu tiên đầu
tư chiều sâu để tăng năng suất và sản lượng.
2.
Pháp luật đất đai hiện hành có quy định rất cụ thể về chế độ sử dụng
đất phi nông nghiệp, quyền và trách
nhiệm của những chủ ưu tiên đầu tư Công
trình nhưng vẫn chưa bảo đảm nguyên tắc bình đẳng về tiếp cận đất đai
giữa những người mua trên “sân chơi” của tổ chức thương
mại thế giới (WTO).
3.
Cơ chế chuyển dịch đất đai chuyên dụng cho những Công
trình ưu tiên đầu tư tăng trưởng chưa tạo được hiệu
quả quan trọng, cả ba cơ chế chuyển dịch – gồm cơ chế tự thoả thuận
giữa nhà đầu tư và những người đang sử dụng đất, cơ chế nhà
nước thu hồi đất theo quy hoạch, cơ chế nhà nước thu hồi đất theo Dự
án đầu tư – đều chứa đựng nhiều nguyên
tố tiêu cực và kém hiệu quả. các bất cập của cơ chế nhà nước thu
hồi đất là nguyên nhân trực tiếp làm cho nguy cơ tham nhũng trong
quản lý đất đai và khiếu kiện của người bị thu hồi đất.
4.
Hệ thống quy hoạch sử dụng đất chưa xác định được vị trí đứng cụ thể trong hệ
thống quy hoạch quốc gia, chưa thực thụ là công cụ để quản lý đất đai
cũng như công cụ quy hoạch sử dụng tài nguyên, tài sản đất đai và bảo vệ môi
trường đất.
5. Hệ thống tài chính đất đai mới được xây dựng trên nền móng của nguyên tắc giá đất phải thích hợp thị trường, chưa có hành lang pháp lý thích hợp để xác định được giá đất phù hợp thị trường, đây cũng là nguyên nhân gây ra hệ luỵ về bất công bằng trong thừa hưởng và tham nhũng trong quản lý đất đai.
6. Hiệu quả thực thi pháp luật không cao của cả chính quyền và người dân, mặc dầu đã thực hiện khá mạnh công cụ kiểm tra, giám sát nhưng còn thiếu hụt 1 hành lang pháp lý để vận hành 1 hệ thống giám sát – giám định thống nhất mang đến hiệu lực và hiệu quả cao.
5. Hệ thống tài chính đất đai mới được xây dựng trên nền móng của nguyên tắc giá đất phải thích hợp thị trường, chưa có hành lang pháp lý thích hợp để xác định được giá đất phù hợp thị trường, đây cũng là nguyên nhân gây ra hệ luỵ về bất công bằng trong thừa hưởng và tham nhũng trong quản lý đất đai.
6. Hiệu quả thực thi pháp luật không cao của cả chính quyền và người dân, mặc dầu đã thực hiện khá mạnh công cụ kiểm tra, giám sát nhưng còn thiếu hụt 1 hành lang pháp lý để vận hành 1 hệ thống giám sát – giám định thống nhất mang đến hiệu lực và hiệu quả cao.
Như
vậy, luật Đất đai cần sửa đổi, bổ sung, đổi mới sao cho đáp ứng
được những bức xúc đang tồn tại nói trên.
Các đổi mới đã đạt được của dự thảo luật Đất đai (sửa
đổi)
Luật
Đất đai (sửa đổi) được soạn thảo bao gồm 15 chương và 190 điều.
So có luật Đất đai 2003, dự thảo luật Đất đai (sửa đổi) – (từ đây gọi
tắt là dự thảo luật) – gia tăng tăng cường 7 chương và 44 điều.
Số lượng chương tăng lên là do đưa 1 số mục của
luật Đất đai hiện hành thành những chương riêng và bổ sung ba chương
mới về “Quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai”,
“Trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai và tổ chức quản lý đất đai” và “Hệ
thống thông báo đất đai”.
Nội dung về quyền và phận sự của Nhà nước đối có đất đai, đối có quản lý đất đai cũng đã được diễn tả chi tiết trong luật Đất đai hiện hành nhưng chưa tách riêng thành nội dung về quyền, trách nhiệm đại diện chủ với toàn dân về đất đai và nội dung về trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Việc tách riêng 2 nội dung như vậy cũng trình bày 1 hình thức khác về trình bày pháp luật. Chương bổ sung về hệ thống thông tin đất đai là cần thiết, tạo được khung pháp lý để xây dựng hệ thống quản lý đất đai điện tử, một thành phần của chính phủ điện tử đang được triển khai ngày nay.
Nội dung về quyền và phận sự của Nhà nước đối có đất đai, đối có quản lý đất đai cũng đã được diễn tả chi tiết trong luật Đất đai hiện hành nhưng chưa tách riêng thành nội dung về quyền, trách nhiệm đại diện chủ với toàn dân về đất đai và nội dung về trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Việc tách riêng 2 nội dung như vậy cũng trình bày 1 hình thức khác về trình bày pháp luật. Chương bổ sung về hệ thống thông tin đất đai là cần thiết, tạo được khung pháp lý để xây dựng hệ thống quản lý đất đai điện tử, một thành phần của chính phủ điện tử đang được triển khai ngày nay.
Đi
sâu hơn vào nội dung pháp luật, sở hữu thể rà soát các giải
pháp mới đưa ra trong dự thảo để đáp ứng những bức xúc đang tồn
tại trên thực tế đã nói trên.
một. Về sự bảo đảm của pháp luật cho sử dụng đất nông nghiệp an cư gắn có đời sống của 70% nông dân thuộc khu vực nông thôn và tạo động lực mới cho tăng trưởng nông nghiệp:
một. Về sự bảo đảm của pháp luật cho sử dụng đất nông nghiệp an cư gắn có đời sống của 70% nông dân thuộc khu vực nông thôn và tạo động lực mới cho tăng trưởng nông nghiệp:
Điều
106 của dự thảo quy định thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, tư nhân sử dụng là năm mươi (50) năm; thời
hạn cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là
không quá năm mươi (50) năm. Đối mang trường hợp hộ gia đình, tư
nhân đã được giao đất nông nghiệp trước đây, lúc hết thời hạn đã
giao thì người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất theo thời hạn quy
định mới nếu mang nhu cầu tiếp tục sử dụng, tuân
thủ đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng
đất phù hợp có quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt y.
Như vậy, người nông dân yên tâm rằng sẽ được tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp
trong thời hạn 50 năm tới. Vậy một câu hỏi được đặt ra là “Nhà
nước sẽ làm gì lúc hết thời hạn 50 năm theo quy định của
luật này? Nhà nước thu hồi để chia lại đất hay lại được kéo dài sử dụng đất
sang thời hạn mới?” Câu giải đáp cần được bổ sung vào quy định của
luật Đất đai.
Điều
110 của dự thảo quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia
đình cá nhân không vượt quá mười lần hạn mức giao đất nông nghiệp của
hộ gia đình, cá nhân; Chính phủ quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất
nông nghiệp của hộ gia đình, tư nhân phù hợp có điều kiện
cụ thể theo từng vùng và từng thời kỳ. Nhìn vào hạn mức “trần” như vậy sở
hữu cảm giác khá phổ thông, nhưng dự thảo luật cũng không đưa ra hạn
mức “cứng” mà còn phải chờ Chính phủ. Câu hỏi được đặt ra ở đây là “Chế tài nào
sẽ sử dụng để xử lý những trường hợp sử dụng đất vượt hạn mức? Sẽ thu
hồi hay chuyển sang thuê đất hay đánh thuế cao hơn?”
Các giải
pháp nới rộng thời hạn và hạn mức diện tích đã được đề xuất áp dụng nhưng
nới đến mức đó sở hữu gây nên tâm lý sử dụng
đất ổn định và quyết tâm đầu tư của nông dân hay chưa vẫn
phải chờ thực tiễn trả lời. Hơn nữa, lúc đất đai vượt quá
“hạn” thì bị khiến cho sao vẫn chưa sở hữu quy định. Nhìn
sâu vào nội dung, người nông dân rất lo ngại tình trạng đang yên tâm sử dụng
đất, hiệu quả cao, đời sống ngày càng khá hơn thì tới một ngày
nào đó đất đai bị Nhà nước thỏa thuận thu hồi để giao
cho 1 Dự án tập trung đầu tư, thế là tan vỡ hết. Người nông dân
cần được biết ngay trong quy hoạch sử dụng đất là đất nông nghiệp ở đâu sẽ được
sử dụng ổn định vào mục đích nông nghiệp mà không bao giờ bị thu hồi
để họ hoàn toàn an tâm phát triển nông nghiệp. Quy định của pháp luật
để giải quyết nguyện vọng này chưa được đề cập trong dự thảo luật.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét